Trọng yếu trong kiểm toán:

30

Trọng yếu trong kiểm toán:

Khái niệm:

Trọng yếulà thuật ngữ dùng để thực hiện tầm quan trọng của một thông tin hay một số liệu kinh tế trong Báo cáo tài chính.

Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó, hoặc thông tin đó
không chính xác không có bối cảnh cụthể, nếu dựa vào các thông tin này đểxét đoán thì không thểchính xác hoặc sẽrút ra những kết luận sai lầm, sai phạm trọng yếu dùng để chỉtầm cỡvà tính hệtrọng của các sai phạm.

Đánh giá tính trọng yếu là đánh giá lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ởmức đó các Báo cáo tài chính có thểbịsai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của người sửdụng thông tin đó.

Thông thường kiểm toán viên khi xem xét vấn đềvềqui mô của đối tượng kiểm toán
thì họ quan tâm tới qui mô tương đối. Qui mô tương đối là mối quan hệtương quan giữa đối tượng cần đánh giá với một sốgốc. Sốgốc thường khác nhau trong mỗi tình huống.

Ví dụ với báo cáo kết quả kinh doanh, số gốc có thể là thu nhập ròng hoặc bình quân thu nhập của mấy năm gần đây, với bảng cân đối kếtoán sốgốc có thểlà tài sản lưu động hoặc tổng tài sản, còn với bảng lưu chuyển tiền tệ, số gốc có thể là DThu thuần…

Để xác minh đúng nội dung kiểm toán trên phương diện này cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:

– Thứnhất: quy mô trọng yếu phải được xác định. Tùy đối tượng cụthểvà khách thể kiểm toán và cần có sự am hiểu về tài chính kế toán của khách thể kiểm toán.

– Thứ hai: qui mô của các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về qui mô bằng con số tuyệt đối mà phải trong tương quan với toàn bộ đối tượng kiểm toán. Về định lượng đó là những tỉ lệ của các khoản mục, nghiệp vụso với một cơ sở để tính toán như tổng số tài sản, tổng doanh thu, lợi tức chưa tính thuế…

– Thứ ba: qui mô trọng yếu còn tuỳthuộc vào từng cuộc kiểm toán có đối tượng và mục
tiêu khác nhau, chẳng hạn kiểm toán tài chính hay kiểm toán hiệu quảvới chức năng xác minh hay tưvấn…

Về tính chất: Khái niệm trọng yếu còn gắn với tính hệ trọng của vấn đề xem xét.

Một yếu tố định tính quan trọng cần xem xét đó là bản chất của khoản mục hoặc vấn đềđang được đánh giá.

Các khoản mục nghiệp vụcó gian lận hoặc chứa đựng khảnăng gian lận như:

– Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp.

– Các nghiệp vụ thanh lý tài sản.

– Các nghiệp vụvềtiền mặt.

– Các nghiệp vụmua bán và thanh toán.

– Các nghiệp vụbất thường.

– Các nghiệp vụphân chia quyền lợi.

– Các nghiệp vụcốý bỏngoài sổsách.

– Các nghiệp vụxẩy ra vào cuối kỳquyết toán hoặc thuộc loại nghiệp vụmới phát sinh.

– Các khoản mục, chứng từcó sửa chữa.

Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót hệ trọng
– Các nghiệp vụ, khoản mục phát hiện có sai sót ở qui mô lớn hoặc có chênh lệch lớn với các kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin có liên quan.

– Các nghiệp vụvi phạm qui tắc kếtoán và pháp lý nói chung.

– Các nghiệp vụkhoản mục có sai sót lặp lại nhiều lần.

– Các nghiệp vụ, khoản mục có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳsau

– Các nghiệp vụ, khoản mục là đầu mối hoặc gây hậu quảliên quan đến nhiều khoản mục nghiệp vụkhác.

Khái niệm trọng yếu đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán với tính nguyên tắc là không được bỏsót khoản mục hay nghiệp vụcó qui mô lớn và có tính hệtrọng. Vi phạm nguyên tắc này cũng có nghĩa là tạo ra rủi ro kiểm toán.

Quantri.vn – Biên tập và hệ thống hóa