Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán:

31

Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán:

Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn vị(gọi là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể.

Tổng thể là một tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.

Mỗi một phần tửtrong tổng thể được gọi là đơn vịtổng thể, và khi chọn mẫu kiểm toán, mỗi đơn vị được lựa chọn ra được gọi là đơn vị mẫu. Tập hợp các đơn vị mẫu được gọi là một mẫu

Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thểmà mẫu được chọn ra.

Chẳng hạn, qua kiểm soát nội bộ xác định 3% phiếu chi không có chứng từ gốc đính kèm.

Nếu trong hàng ngàn phiếu chi, chọn ra một trăm phiếu thấy đúng có ba lần thiếu chứng từ gốc thì mẫu được chọn là tiêu biểu.

Bất cứkhi nào chọn mẫu thì rủi ro chọn mẫu cũng phát sinh. Rủi ro chọn mẫu là khảnăng mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên mẫu sai lệch so với kết luận mà kiểm toán viên cũng dùng thửnghiệm tương tựáp dụng đối với toàn bộtổng thể. Nói cách khác, rủi ro chọn mẫu là sựsai khác giữa kết quả chọn mẫu với kết quả thực tế.

Ví dụ: KTV chọn mẫu hoá đơn bán hàng, sau khi kiểm tra mẫu, KTV đưa ra dự kiến tối đa 5% tổng hoá đơn bán hàng “chưa được phê chuẩn bán theo phương thức trảchậm”.

Trong khi đó nếu KTV kiểm tra tất cảdoanh thu bán chịu của thời kỳ đó, KTV sẽ thấy tỉ lệhoá đơn “chưa được phê chuẩn bán theo phương thức trảchậm” chiếm 8%. Như vậy sai lệch giữa tỷ lệ thực tế 8% với tỷ lệ theo kết quả mẫu chọn 5% là sai số chọn mẫu 3%.

Khi tăng kích cỡ của mẫu chọn sẽ làm giảm rủi ro chọn mẫu. Nếu tăng kích cỡ mẫu chọn cho tới khi toàn bộtổng thể được kiểm tra thì khi đó rủi ro chọn mẫu bằng không.

Khi kích cỡmẫu tăng lên điều đó đồng nghĩa với phí kiểm toán cũng tăng lên. Vậy yếu tố chủ chốt trong việc chọn mẫu kiểm toán một cách hiệu quả là cần phải cân đối giữa
rủi ro chọn mẫu với chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn.

Rủi ro không do chọn mẫu là việc mà KTV đưa ra những kết luận sai lầm không phải do lỗi chọn mẫu mà do các yếu tốkhông liên quan trực tiếp đến việc chọn mẫu.

Ví dụ: KTV có thể sử dụng thủtục kiểm toán không phù hợp với mục tiêu kiểm toán hoặc sử dụng đúng thủ tục nhưng không phát hiện ra sai phạm trong mẫu đã chọn do thiếu thận trọng. Các trường hợp rủi ro không do chọn mẫu thường bao gồm:

– Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng.

– Đánh giá không đúng vềrủi ro kiểm soát.

– Lựa chọn các thủtục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công vịêc kiểm toán không hợp lý.

Quantri.vn – Biên tập và hệ thống hóa